Để khẳng định một nhà văn đích thực là nhà văn viết cho thiếu nhi, theo tôi, việc đầu tiên cần làm là quan sát các cậu bé cô bé phản ứng thế nào khi được nghe, được đọc tác phẩm của nhà văn ấy. Có được cuốn “Cá sấu Ghena và các bạn” - tác giả Eduard Uspenski (Nga)(*), tôi đã thử đọc to lên một chương cho một cậu bé 5 tuổi và một người lớn. Người lớn có đôi chỗ nhíu mày không hiểu. Chẳng hạn, vì sao tra từ điển về con Báo mà phải bắt đầu tìm từ chữ cãi “G” (gầm) hoặc chữ cái V (vồ) chứ không phải là B (báo)! Còn cậu bé thì quay ra giảng giải cho độc-giả-người-lớn ấy, một cách tự tin và hứng khởi. Tôi hiểu rằng, nhà văn đã bắt được “kênh” với độc giả nhỏ tuổi. Và “Cá sấu Ghena và các bạn” đích thực là một tác phẩm dành cho các em.
Câu chuyện kể về chú cá sấu châu Phi… 50 tuổi đời có tên là Ghena, làm công việc đóng vai… cá sấu ở vườn thú. Chú rất cô đơn. Vì thế, một hôm nảy ra ý treo biển tìm bạn. Chú viết thế này: “Một cá xấu trẻ 50 tuổi muốn tìm bạn…”. Và ngay lập tức, chú lần lượt được đón các bạn của mình. Họ trở thành nhân vật trong cuốn truyện dày 200 trang nói trên, đưa các em nhỏ vào một cuộc hành trình lớn và có lẽ, quan trọng vào bậc nhất đối với tuổi thơ, là cuộc hành trình kết bạn, gìn giữ tình bạn. Đó là một con vật kỳ lạ, nhìn vừa giống thỏ, vừa giống gấu, không ra chuột túi cũng chẳng ra chó con, một nhân vật mà khoa học chưa biết đến, có tên là Cheburashka, nằm trong thùng đựng cam đến từ một miền xa lắc. Đó là cô bé Galia nhân hậu, luôn bắt bẻ người ta nói đúng viết đúng. Đó là một cô khỉ làm việc ở rạp xiếc, mồm ngậm đủ các thứ đồ vật nho nhỏ đến nỗi ai hỏi cũng luôn phải cân nhắc gật hay là lắc cho hợp cảnh. Đó là chú hươu cao cổ buồn bã vì quá cao, chẳng ai chơi cùng. Đó là anh sư tử to khỏe cuối cùng cũng đồng ý kết bạn với chú chó Tobic bé tẹo. Đó là những cậu bé bị liệt vào dạng “hư”, con nhà tử tế và có đến 6 hay 8 điểm 2 trong một tuần, thèm được kết bạn với những chú bé bị nhiều điểm 2 hơn mình… Và đương nhiên, trong cuốn sách còn có những nhân vật làm điều xấu nữa, là mụ già Sapokliac và con chuột Lariska. Tôi không thể nói đó là những nhân vật phản diện, bởi chúng chính là hiện thân của cái phần hiếu động và ngốc nghếch không thể không có trong mỗi đứa trẻ. Mụ già đi gom... điều ác, vì muốn được nổi tiếng!!! Dùng súng cao su bắn vào chim bồ câu, té nước vào người qua đường, buộc dây vào ví tiền để bẫy mọi người... Đấy, đó là những điều ác, điều xấu mà mụ Sapokliac muốn làm! Nhân vật này luôn đứng nghiêng ngả ở ranh giới giữa sự sửa đổi bản thân cho ngoan hơn với lực hấp dẫn của những trò tai hại. Thật thú vị khi được cùng các em khám phá chính bản thân mình qua những câu chuyện nho nhỏ của cuốn sách. Các em nhìn thấy mình trong đó, cười những tật xấu của chính mình và vui vẻ đồng tình với những giải pháp mà nhà văn đưa ra để một đứa trẻ có thể tìm được bạn, giúp đỡ được mọi người và nhìn những lỗi lầm của người khác một cách nhân hậu.
Không đưa ra mục đích giáo dục một cách lộ liễu, không lên lớp, giáo điều, nhìn sự việc kiểu trẻ con, nói kiểu trẻ con, và giải quyết mọi việc cũng kiểu trẻ con, rất logic đối với lũ trẻ mà hoàn toàn bất ngờ đối với độc giả người lớn - đấy chính là nét độc đáo trong bút pháp của nhà văn Xô Viết chuyên viết cho trẻ em Eduard Uspenski!
Eduard Uspenski sinh năm 1937 tại ngoại ô Matxcơva. Ở Liên Xô cũ và LB Nga, các nhân vật do ông sáng tạo ra từ lâu đã đi sâu vào đời sống tinh thần của các em nhỏ, và không chỉ của các em. Chú bé Phiodor bỏ nhà đi cùng con chó và con mèo trong “Bác Phiodor, con chó và con mèo” (tác phẩm đã được Nguyễn Thị Kim Hiền chuyển ngữ, công ty Nhã Nam và NXB Hội nhà văn ấn hành năm 2006), cá sấu Ghena, Cheburashka... đã xuất hiện trên các phim hoạt hình từ cuối những năm 60 thế kỷ trước, sau này, chúng là nhân vật trong các clip quảng cáo, thậm chí là biểu tượng của đội tuyển Olimpic LB Nga trong một số Thế vận hội mùa đông những năm gần đây. Hai bài hát của hai nhân vật cá sấu Ghena và Cheburashka, do nhạc sĩ người Nga nổi tiếng Shainsky, tác giả bài “Nụ cười”, phổ nhạc theo lời thơ của Uspenski, đều được trẻ em đón nhận và yêu thích đã nhiều thập kỷ. Ở Việt Nam cũng vậy, chắc không ít người từng cất lời hát bài “Mừng sinh nhật” mà cá sấu Ghena từng hát: “Vui xiết bao, mừng ngày sinh cùng cất tiếng ca, kèn trompete hòa vang véo von, nhạc bùng lên, son lá son... Năm tháng trôi, thời gian đi ngày sao quá mau, mừng ngày sinh ánh dương bừng sáng lên, bóng đêm tan, sẽ tan dần”.
Nhớ lại một thời, các bạn đọc nhí Việt Nam từng có trên tay những tác phẩm thiếu nhi với những câu chuyện nhỏ xinh, nhân hậu, dí dỏm của nền văn học Xô Viết, những “Timua và đồng đội” (A. Gaidar), “Marusia đi học” (E. Shvarts), “Vichia Maleev ở nhà và ở trường”, “Cuộc phiêu lưu của Mít Đặc và các bạn (N.Nosov)..., không khỏi cảm thấy bùi ngùi vì một thời gian rất dài đã có một khoảng lặng lớn trong việc tiếp tục giới thiệu nền văn học Xô Viết hoặc cập nhật những tác phẩm mới của Nga cho bạn đọc Việt Nam. Vì thế, lần này, cầm cuốn “Cá sấu Ghena và các bạn”, với tư cách là một người quan tâm đến văn học Nga nói riêng và văn học dịch dành cho thiếu nhi nói chung, tôi cảm thấy vui mừng.
Monday, 14 March 2011
Chuộc tội - McEwan
Cuốn tiểu thuyết mới xuất sắc của Ian McEwan “Chuộc tội” là một câu chuyện về tình yêu, một câu chuyện về chiến tranh và một câu chuyện về khả năng hủy diệt của trí tưởng tượng. Nó cũng là một cuốn tiểu thuyết chứa đựng tất cả những chủ đề trở đi trở lại của tác giả - ứng xử với những nguy hiểm của sự ngây thơ, sự ảnh hưởng của quá khứ lên thực tại và sự xâm phạm của cái ác vào những cuộc đời bình phàm - và hòa phối chúng trong một tác phẩm hài hòa mà mỗi phần nhỏ đều vừa lay động vừa vô cùng hấp dẫn. Nói một cách ngắn gọn, cuốn tiểu thuyết là một thành tựu xuất sắc.
Câu chuyện mà “Chuộc tội” kể lại liên quan tới lời nói dối ghê gớm của một bé gái 13 tuổi, một lời nói dối sẽ làm cho người yêu chị gái của em vào tù và làm tan nát cuộc sống vốn phẳng lặng của một gia đình tầng lớp hạng trên trung lưu. Như trong rất nhiều cuốn tiểu thuyết trước đó của McEwan, sự kiện kinh hoàng này sẽ phơi bày những đường nứt về mặt tâm lý chạy xuyên suốt cuộc đời các nhân vật của ông và buộc họ phải đối mặt với một loạt những lựa chọn về phương diện đạo đức. Nó cũng làm nổi bật những căng thẳng về mặt giai cấp tồn tại ở Anh những năm 1930 và những thay đổi về mặt xã hội do Đại chiến Thế giới lần thứ II gây ra.
Đồng thời, cuốn tiểu thuyết có vẻ chỉ là một chuyện kể được tạo nên bởi một trong các nhân vật này còn có giá trị như một sự suy tưởng phức tạp về những nguy hiểm của sự ảo tưởng và vực thẳm ngăn cách giữa hiện thực và nghệ thuật. Vô vàn những phúng dụ của nó (đến đủ các cuốn tiểu thuyết khác nhau như “Clarissa”, “Northanger Abbey”, “Lady Chatterley's Lover”, “Howards End”, và “Mrs. Dalloway”) đặt câu chuyện vào một bối cảnh văn chương phong phú đồng thời làm bật thủ thuật tạo ra một tác phẩm hư cấu: thắt chặt những đầu mối còn để hở của đời thực tế nhằm tạo ra một câu chuyện khiến người đọc thỏa mãn.
Gồm bốn phần riêng biệt, “Chuộc tội” mở đầu một cách rất lừa mị, như “Gosford Park”, lấy bối cảnh một vùng quê yên bình ở Anh được miêu tả bằng một thứ văn xuôi nhẹ nhàng, rất Woolf. Đó là một ngày hè nồng nực năm 1935, và gia đình Tallis tập trung ở căn biệt thự dùng bữa tối đặc biệt: Leon, con trai cả, về thăm nhà; em gái anh Cecilia vừa tốt nghiệp Cambridge về; Briony, cô em gái 13 tuổi của họ đã viết một vở kịch chào mừng Leon về nhà; ba đứa em họ Quincey - Lola 15 tuổi và hai thằng bé sinh đôi 9 tuổi, Jackson và Pierrot - thì vừa đến ở nhờ lâu dài.
Dẫu vậy, những mầm mống về sự hỗn loạn đã tồn tại. Người lớn trong nhà hoàn toàn vắng mặt: Jack Tallis thì ở văn phòng ở Whitehall của ông, lo chuyện nhà nước; Emily, vợ ông, bị đau đầu phải nằm bẹp trên giường; và bố mẹ bọn trẻ nhà Quincey thì vắng mặt vì đang chuẩn bị cho một cuộc li dị tồi tệ. Briony đã từ bỏ kế hoạch diễn kịch sau khi cãi nhau với mấy đứa em họ. Còn Cecilia và anh bạn cùng trường Cambridge, Robbie Tuner, con trai của người dọn dẹp cho gia đình Tallis, đã có một cuộc tranh cãi căng thẳng đầy nhục tính dẫn tới việc làm vỡ chiếc bình Meissen quý giá - cuộc tranh cãi bị cô bé Briony đang buồn bực chứng kiến, cô bé từng ôm ấp một cơn say nắng tuổi học trò với Robbie.
Rất nhiều sự kiện xảy ra vào tối hôm đó - bao gồm việc chuyển một bức thư tục tĩu, sự biến mất một cách chóng vánh của hai đứa sinh đôi nhà Quincey và việc cô em họ Lola bị hãm hiếp - nghe có vẻ như những sự phát triển được dàn xếp sẵn như trong một vở melodrama Gothic kiểu cũ. Nhưng McEwan đã rất tài tình khi cho thấy chúng là kết quả của một chuỗi kết hợp những sự tình cờ, hiểu nhầm, và đầu óc thâm hiểm, đồng thời khéo léo chuyển từ điểm nhìn của nhân vật này sang điểm nhìn của nhân vật khác để tạo nên một giọng kể phức tạp được cất lên vừa hài hòa vừa đem lại ấn tượng mạnh.
Trong những cuốn tiểu thuyết trước đây như “The Innocent” và “Amsterdam” McEwan đã sử dụng tài năng viết văn thiên bẩm của mình để chuyển tải điểm nhìn của các nhân vật rõ ràng là không hoàn toàn thánh thiện và trong “Chuộc tội” ông đã thành công trong việc khiến trạng thái tinh thần đã dẫn Briony đến việc buộc tội Robbie một cách sai lầm trở nên hợp lý, nếu không muốn nói là đáng thông cảm. Ông miêu tả cái cách sự ngây thơ bướng bỉnh và trí tưởng tượng tự trầm trọng hóa vấn đề của cô bé đã dẫn nó đến chỗ lờ đi sự thật, cái cách sự ngờ nghệch về thế giới người lớn của nó đã dẫn đến một tội ác khủng khiếp - một tội ác sau này cô bé cố đền bằng cả sự giải thích duy lý và những hành động chuộc tội.
Những phần tiếp theo của cuốn tiểu thuyết kể về những hậu quả mà lời nói dối của Brinoy gây ra cho gia đình Tallis. Một phần kể về cuộc rút lui của quân Đồng minh khỏi Dunkirk vào năm 1940, từ điểm nhìn của Robbie, anh được ra tù sớm vì đã đồng ý nhập ngũ. Phần thứ hai kể lại giai đoạn Briony làm y tá thực tập trong những ngày đen tối nhất khi diễn ra cuộc tản cư ở Dunkirk. Và phần thứ ba đưa người đọc về lại với gia đình Tallis năm 1999, những nhân vật chính sống sót qua chiến tranh nay đã già nua và ốm yếu.
Dẫu các phần của “Chuộc tội” đều được viết một cách diệu nghệ, khớp với nhau một cách tinh xảo như những miếng xếp hình được làm thủ công, dẫu chỉ riêng phần Dunkirk cũng đã có thể đứng riêng rẽ như một dàn cảnh sân khấu xuất sắc khắc họa sự vô nghĩa và nỗi kinh hoàng của chiến tranh, văn phong của McEwan vẫn không hề bộc lộ sự gượng gạo hay kiểu cách. Thực ra, “Chuộc tội” là cuốn tiểu thuyết khiến người đọc cảm động nhất của tác giả tính cho đến thời điểm này - một cuốn tiểu thuyết đã thừa kế kỹ thuật kể chuyện tuyệt vời từng được gọt giũa đến hoàn hảo trong cuốn tiểu thuyết “Amsterdam” trước nó để áp dụng cho một toàn cảnh bi kịch lớn hơn.
Đây là cuốn tiểu thuyết không chỉ chứng thực cho tài năng bậc thầy và khả năng chi phối độ căng tự sự của McEwan, mà còn cho sự hiểu biết của tác giả về trái tim con người và sự say mê sự cân đối và trật tự của nó.
Câu chuyện mà “Chuộc tội” kể lại liên quan tới lời nói dối ghê gớm của một bé gái 13 tuổi, một lời nói dối sẽ làm cho người yêu chị gái của em vào tù và làm tan nát cuộc sống vốn phẳng lặng của một gia đình tầng lớp hạng trên trung lưu. Như trong rất nhiều cuốn tiểu thuyết trước đó của McEwan, sự kiện kinh hoàng này sẽ phơi bày những đường nứt về mặt tâm lý chạy xuyên suốt cuộc đời các nhân vật của ông và buộc họ phải đối mặt với một loạt những lựa chọn về phương diện đạo đức. Nó cũng làm nổi bật những căng thẳng về mặt giai cấp tồn tại ở Anh những năm 1930 và những thay đổi về mặt xã hội do Đại chiến Thế giới lần thứ II gây ra.
Đồng thời, cuốn tiểu thuyết có vẻ chỉ là một chuyện kể được tạo nên bởi một trong các nhân vật này còn có giá trị như một sự suy tưởng phức tạp về những nguy hiểm của sự ảo tưởng và vực thẳm ngăn cách giữa hiện thực và nghệ thuật. Vô vàn những phúng dụ của nó (đến đủ các cuốn tiểu thuyết khác nhau như “Clarissa”, “Northanger Abbey”, “Lady Chatterley's Lover”, “Howards End”, và “Mrs. Dalloway”) đặt câu chuyện vào một bối cảnh văn chương phong phú đồng thời làm bật thủ thuật tạo ra một tác phẩm hư cấu: thắt chặt những đầu mối còn để hở của đời thực tế nhằm tạo ra một câu chuyện khiến người đọc thỏa mãn.
Gồm bốn phần riêng biệt, “Chuộc tội” mở đầu một cách rất lừa mị, như “Gosford Park”, lấy bối cảnh một vùng quê yên bình ở Anh được miêu tả bằng một thứ văn xuôi nhẹ nhàng, rất Woolf. Đó là một ngày hè nồng nực năm 1935, và gia đình Tallis tập trung ở căn biệt thự dùng bữa tối đặc biệt: Leon, con trai cả, về thăm nhà; em gái anh Cecilia vừa tốt nghiệp Cambridge về; Briony, cô em gái 13 tuổi của họ đã viết một vở kịch chào mừng Leon về nhà; ba đứa em họ Quincey - Lola 15 tuổi và hai thằng bé sinh đôi 9 tuổi, Jackson và Pierrot - thì vừa đến ở nhờ lâu dài.
Dẫu vậy, những mầm mống về sự hỗn loạn đã tồn tại. Người lớn trong nhà hoàn toàn vắng mặt: Jack Tallis thì ở văn phòng ở Whitehall của ông, lo chuyện nhà nước; Emily, vợ ông, bị đau đầu phải nằm bẹp trên giường; và bố mẹ bọn trẻ nhà Quincey thì vắng mặt vì đang chuẩn bị cho một cuộc li dị tồi tệ. Briony đã từ bỏ kế hoạch diễn kịch sau khi cãi nhau với mấy đứa em họ. Còn Cecilia và anh bạn cùng trường Cambridge, Robbie Tuner, con trai của người dọn dẹp cho gia đình Tallis, đã có một cuộc tranh cãi căng thẳng đầy nhục tính dẫn tới việc làm vỡ chiếc bình Meissen quý giá - cuộc tranh cãi bị cô bé Briony đang buồn bực chứng kiến, cô bé từng ôm ấp một cơn say nắng tuổi học trò với Robbie.
Rất nhiều sự kiện xảy ra vào tối hôm đó - bao gồm việc chuyển một bức thư tục tĩu, sự biến mất một cách chóng vánh của hai đứa sinh đôi nhà Quincey và việc cô em họ Lola bị hãm hiếp - nghe có vẻ như những sự phát triển được dàn xếp sẵn như trong một vở melodrama Gothic kiểu cũ. Nhưng McEwan đã rất tài tình khi cho thấy chúng là kết quả của một chuỗi kết hợp những sự tình cờ, hiểu nhầm, và đầu óc thâm hiểm, đồng thời khéo léo chuyển từ điểm nhìn của nhân vật này sang điểm nhìn của nhân vật khác để tạo nên một giọng kể phức tạp được cất lên vừa hài hòa vừa đem lại ấn tượng mạnh.
Trong những cuốn tiểu thuyết trước đây như “The Innocent” và “Amsterdam” McEwan đã sử dụng tài năng viết văn thiên bẩm của mình để chuyển tải điểm nhìn của các nhân vật rõ ràng là không hoàn toàn thánh thiện và trong “Chuộc tội” ông đã thành công trong việc khiến trạng thái tinh thần đã dẫn Briony đến việc buộc tội Robbie một cách sai lầm trở nên hợp lý, nếu không muốn nói là đáng thông cảm. Ông miêu tả cái cách sự ngây thơ bướng bỉnh và trí tưởng tượng tự trầm trọng hóa vấn đề của cô bé đã dẫn nó đến chỗ lờ đi sự thật, cái cách sự ngờ nghệch về thế giới người lớn của nó đã dẫn đến một tội ác khủng khiếp - một tội ác sau này cô bé cố đền bằng cả sự giải thích duy lý và những hành động chuộc tội.
Những phần tiếp theo của cuốn tiểu thuyết kể về những hậu quả mà lời nói dối của Brinoy gây ra cho gia đình Tallis. Một phần kể về cuộc rút lui của quân Đồng minh khỏi Dunkirk vào năm 1940, từ điểm nhìn của Robbie, anh được ra tù sớm vì đã đồng ý nhập ngũ. Phần thứ hai kể lại giai đoạn Briony làm y tá thực tập trong những ngày đen tối nhất khi diễn ra cuộc tản cư ở Dunkirk. Và phần thứ ba đưa người đọc về lại với gia đình Tallis năm 1999, những nhân vật chính sống sót qua chiến tranh nay đã già nua và ốm yếu.
Dẫu các phần của “Chuộc tội” đều được viết một cách diệu nghệ, khớp với nhau một cách tinh xảo như những miếng xếp hình được làm thủ công, dẫu chỉ riêng phần Dunkirk cũng đã có thể đứng riêng rẽ như một dàn cảnh sân khấu xuất sắc khắc họa sự vô nghĩa và nỗi kinh hoàng của chiến tranh, văn phong của McEwan vẫn không hề bộc lộ sự gượng gạo hay kiểu cách. Thực ra, “Chuộc tội” là cuốn tiểu thuyết khiến người đọc cảm động nhất của tác giả tính cho đến thời điểm này - một cuốn tiểu thuyết đã thừa kế kỹ thuật kể chuyện tuyệt vời từng được gọt giũa đến hoàn hảo trong cuốn tiểu thuyết “Amsterdam” trước nó để áp dụng cho một toàn cảnh bi kịch lớn hơn.
Đây là cuốn tiểu thuyết không chỉ chứng thực cho tài năng bậc thầy và khả năng chi phối độ căng tự sự của McEwan, mà còn cho sự hiểu biết của tác giả về trái tim con người và sự say mê sự cân đối và trật tự của nó.
Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh - Nguyễn Nhật Ánh
Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh là câu chuyện của người anh kể về người em, hay nói khác đi, là số phận của người em dưới cái nhìn của người anh. Cậu bé Tường tuồng như sinh ra để hi sinh và nhường nhịn người khác và cuộc đời đã ban tặng cậu hạnh phúc ngọt ngào mà cậu mong mỏi.
Trong khi Thiều, anh trai cậu, một cậu bé ích kỷ, hẹp hòi tưởng có được tất cả thì hóa ra chẳng có gì. Bài học đó thú vị ở chỗ nó do chính người anh ích kỷ, hẹp hòi rút ra chứ không phải ai khác.
Với một giọng kể chân chất hồn hậu, khi dí dỏm khi ngọt ngào, cả tếu táo và nghịch ngợm nữa, mỗi cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh giống như một ống kính vạn hoa. Với các em, chỉ cần xoay khẽ một chút các em sẽ thấy biết bao quen thân và lạ lẫm để rồi ngồi cười khúc khích với nhau, hoặc lặng đi, nhìn nhau rưng rưng tiếc thương một cái gì đã mất.
Còn với tôi, mỗi lần xoay khẽ kính vạn hoa kia, cả tuổi thơ lộng lẫy và đau đớn tưởng đã chìm sâu khuất lấp vào lãng quên bỗng rực lên trước mắt tôi, làm cho tôi lắm khi khó cầm được nước mắt. “Ðược tắm mình trong dòng sông trong trẻo của tuổi thơ sẽ giúp bạn gột rửa những bụi bặm của thế giới người lớn một cách diệu kỳ”, Nguyễn Nhật Ánh đã nói vậy và anh đã đúng.
Có thể nói mỗi cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh như mỗi chuyến tàu về tuổi thơ, ở đó có nhiều toa, mỗi toa là mỗi bất ngờ, mỗi thú vị, mỗi háo hức, mỗi say mê, khi làm ta bật cười khi làm ta rưng rưng hoặc ngồi lặng đi suy ngẫm. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cũng vậy. Ở toa này ta gặp những câu chuyện hài hước vui nhộn, chuyện ông Cả Hớn trúng xổ số, chuyện cu Tường làm chim xanh hay chuyện lá thư tình đầu đời của cu Thiều chẳng hạn.
Ở toa khác ta lại gặp những câu chuyện ngậm ngùi, thương xót. Chuyện cha của bé Mận bị bạo bệnh đã trốn nhà ra đi vì không muốn vợ con khốn khổ vì mình, chuyện ông Tám Tàng giả điên làm vua vì đứa con gái tâm thần luôn nghĩ mình là công chúa, ai đã đọc rồi dù muốn quên đi cũng rất khó.
Tính gây nghiện của văn chương Nguyễn Nhật Ánh trước hết là triết lý sống vì nhau xuyên suốt trục sáng tác của anh, với các em nó là bài học luân lý, là sự khám phá về cái gọi là tình người; với người lớn nó là chìa khóa mở ra biết bao nỗi ăn năn. Ai cũng vậy thôi, ít nhất một lần trong đời gây khổ đau cho người khác vì sự vô tâm, tắc trách của mình. Chìa khóa sống vì nhau đã giúp tâm hồn con người tìm về những nỗi ăn năn để thao thức cùng với nó.
Những trang sách của Nguyễn Nhật Ánh nói với chúng ta rằng tôi đã ăn năn như thế đấy, còn bạn thì sao? Cậu bé Thiều trong cuốn sách có thể không phải là Nguyễn Nhật Ánh thuở bé thơ nhưng chắc chắn đó là một nỗi ăn năn của chính anh, chính thế hệ của anh. Cái chết của con Cu Cậu đã làm cho cậu bé Thiều hoảng loạn không phải chỉ vì cái chết của một con cóc, nó là sự tước đoạt niềm vui của kẻ khác. Khi bạn tước đi niềm vui của người khác thì một phần trong trẻo trong tâm hồn bạn cũng sẽ chết theo, vì thế nó sẽ ám ảnh bạn đến trọn đời. Nào ai có dám chắc trong đời không một lần vô tình hay hữu ý tước đi niềm vui của người khác?
Trong diễn từ đọc tại lễ trao giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan, Nguyễn Nhật Ánh đã nói: "Mỗi dân tộc đều có treo một quả chuông trước cửa sổ tâm hồn của mình. Nhà văn có sứ mạng phải rung những quả chuông đó lên bằng văn chương." Và thế là với Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, quả chuông của Nguyễn Nhật Ánh lại rung lên. Khi đã theo con tàu của Nguyễn Nhật Ánh để đi về tuổi thơ một lần, tôi tin mỗi lần Nguyễn Nhật Ánh rung chuông, người ta khó lòng bỏ qua một tấm vé để lại được cùng anh háo hức lên tàu.
Trong khi Thiều, anh trai cậu, một cậu bé ích kỷ, hẹp hòi tưởng có được tất cả thì hóa ra chẳng có gì. Bài học đó thú vị ở chỗ nó do chính người anh ích kỷ, hẹp hòi rút ra chứ không phải ai khác.
Với một giọng kể chân chất hồn hậu, khi dí dỏm khi ngọt ngào, cả tếu táo và nghịch ngợm nữa, mỗi cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh giống như một ống kính vạn hoa. Với các em, chỉ cần xoay khẽ một chút các em sẽ thấy biết bao quen thân và lạ lẫm để rồi ngồi cười khúc khích với nhau, hoặc lặng đi, nhìn nhau rưng rưng tiếc thương một cái gì đã mất.
Còn với tôi, mỗi lần xoay khẽ kính vạn hoa kia, cả tuổi thơ lộng lẫy và đau đớn tưởng đã chìm sâu khuất lấp vào lãng quên bỗng rực lên trước mắt tôi, làm cho tôi lắm khi khó cầm được nước mắt. “Ðược tắm mình trong dòng sông trong trẻo của tuổi thơ sẽ giúp bạn gột rửa những bụi bặm của thế giới người lớn một cách diệu kỳ”, Nguyễn Nhật Ánh đã nói vậy và anh đã đúng.
Có thể nói mỗi cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh như mỗi chuyến tàu về tuổi thơ, ở đó có nhiều toa, mỗi toa là mỗi bất ngờ, mỗi thú vị, mỗi háo hức, mỗi say mê, khi làm ta bật cười khi làm ta rưng rưng hoặc ngồi lặng đi suy ngẫm. Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cũng vậy. Ở toa này ta gặp những câu chuyện hài hước vui nhộn, chuyện ông Cả Hớn trúng xổ số, chuyện cu Tường làm chim xanh hay chuyện lá thư tình đầu đời của cu Thiều chẳng hạn.
Ở toa khác ta lại gặp những câu chuyện ngậm ngùi, thương xót. Chuyện cha của bé Mận bị bạo bệnh đã trốn nhà ra đi vì không muốn vợ con khốn khổ vì mình, chuyện ông Tám Tàng giả điên làm vua vì đứa con gái tâm thần luôn nghĩ mình là công chúa, ai đã đọc rồi dù muốn quên đi cũng rất khó.
Tính gây nghiện của văn chương Nguyễn Nhật Ánh trước hết là triết lý sống vì nhau xuyên suốt trục sáng tác của anh, với các em nó là bài học luân lý, là sự khám phá về cái gọi là tình người; với người lớn nó là chìa khóa mở ra biết bao nỗi ăn năn. Ai cũng vậy thôi, ít nhất một lần trong đời gây khổ đau cho người khác vì sự vô tâm, tắc trách của mình. Chìa khóa sống vì nhau đã giúp tâm hồn con người tìm về những nỗi ăn năn để thao thức cùng với nó.
Những trang sách của Nguyễn Nhật Ánh nói với chúng ta rằng tôi đã ăn năn như thế đấy, còn bạn thì sao? Cậu bé Thiều trong cuốn sách có thể không phải là Nguyễn Nhật Ánh thuở bé thơ nhưng chắc chắn đó là một nỗi ăn năn của chính anh, chính thế hệ của anh. Cái chết của con Cu Cậu đã làm cho cậu bé Thiều hoảng loạn không phải chỉ vì cái chết của một con cóc, nó là sự tước đoạt niềm vui của kẻ khác. Khi bạn tước đi niềm vui của người khác thì một phần trong trẻo trong tâm hồn bạn cũng sẽ chết theo, vì thế nó sẽ ám ảnh bạn đến trọn đời. Nào ai có dám chắc trong đời không một lần vô tình hay hữu ý tước đi niềm vui của người khác?
Trong diễn từ đọc tại lễ trao giải thưởng văn học ASEAN tại Thái Lan, Nguyễn Nhật Ánh đã nói: "Mỗi dân tộc đều có treo một quả chuông trước cửa sổ tâm hồn của mình. Nhà văn có sứ mạng phải rung những quả chuông đó lên bằng văn chương." Và thế là với Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, quả chuông của Nguyễn Nhật Ánh lại rung lên. Khi đã theo con tàu của Nguyễn Nhật Ánh để đi về tuổi thơ một lần, tôi tin mỗi lần Nguyễn Nhật Ánh rung chuông, người ta khó lòng bỏ qua một tấm vé để lại được cùng anh háo hức lên tàu.
Vô Tri - Milan Kundera
Trong Vô tri, Milan Kundera kể câu chuyện hồi hương của Irena và Josef, và ta đọc thấy qua chuyến đi khó khăn đó, họ đồng thời trở về với những đòi hỏi sâu kín của tâm tư mình.
Sau hai mươi năm sống ở nước ngoài, Irena về thăm tổ quốc Bohême và thành phố Praha của tuổi thơ cô. Thực ra, cô không háo hức với chuyến đi này lắm, vì lúc này ở Pháp cô đã sống yên ổn với công việc, căn hộ và các con. Cô về đơn giản là do sự thúc giục của chồng cô, Gustaf, một người đang thấy có nhiều cơ hội làm ăn ở Praha khi bộ máy kinh tế thị trường ở đó đang mở hết công suất. Nhưng điều làm cô đau đớn ngay trước lúc lên đường là một người bạn cô ở Paris đã xem chuyến trở về Praha này như là chuyến trở về mang ý nghĩa nhân sinh lớn lao vì không như vậy cô sẽ thiếu hẳn một chiều kích quyết định để đánh giá con người: chiều kích lịch sử. Sylvie đã phớt lờ hai mươi năm sống ở Paris của Irena - hai mươi năm ấy cô đã xây dựng cho mình một khoảng trời riêng đủ ấm áp, đủ hạnh phúc, và đủ những đường nét nhân văn chính yếu. Khi Irena nói: “Tớ sống ở đây được hai mươi năm rồi. Cuộc đời tớ là ở đây!” thì Sylvie im lặng khó chịu, ngầm muốn nói rằng (Irena) không được phép lảng tránh những sự kiện vĩ đại đang diễn ra “tại nước cậu”. Với Sylvie, đó là Cuộc Trở Về Vĩ Đại, có thể sánh với cuộc trở về của Ulysse trong sử thi Hy Lạp Odyssée.
Nhưng đó dù sao cũng là cách cư xử có phần “văn minh” và “thấu hiểu” của Sylvie, thay mặt giới trí thức Pháp, dành cho Irena, một người nhập cư đến từ một nước Đông Âu cách mạng. Thái độ phớt lờ trước cuộc sống riêng tư của Irena chưa đến mức phũ phàng. Những người bạn cũ của Irena ở Praha sẽ làm điều này. Với tư cách số đông (trong một bữa tiệc), họ không cần thay mặt ai cả, họ chính là tất cả những người “không di cư”, đã ở lại tổ quốc suốt hai mươi năm khó nhọc không có Irena. Họ không hỏi thăm lấy một lời về hai mươi năm di cư của cô. Cô muốn chọn chủ đề cho cuộc gặp gỡ và muốn được họ lắng nghe, nhưng “Đám phụ nữ nói không ngừng và gần như không thể áp đặt cho cuộc trò chuyện ấy một chủ đề (…) / ngay khi những lời của cô tách xa khỏi những mối bận tâm của họ, không ai buồn lắng nghe cô nữa cả.” Họ không uống những chai rượu Bordeau mà Irena mang về từ Paris. (Khi đã say sưa với bia, thức uống quen thuộc của quê nhà, họ mới quấy quá uống chút rượu vang).
Rõ ràng, cô bạn Sylvie và những người bạn Praha đã cố tình lôi kéo Irena vào một đại tự sự (grand narrative), không cho cô đứng ngoài một bầu trời chung. Không ai cần biết Irena rốt cuộc cũng cảm thấy mình yêu Praha biết bao, và thực sự muốn lấp đầy ý nghĩa cho chuyến trở về này bằng cách tranh thủ tìm lại một Praha với bao kỷ niệm êm đềm xa xưa, “Praha của những khu vườn bao quanh, vào lúc hoàng hôn, bí mật tiến hành lan tỏa mùi hương”. Không ai cần biết điều gì đang diễn ra trong sâu xa tâm hồn cô, kể cả người chồng đi cùng cô. Như vậy là cô đã “ngoại tình trong tư tưởng”. Không, cô sẽ đi xa hơn, cô sẽ ngoại tình trong thực tế để đẩy nhanh tiến trình đi tìm thời gian đã mất của mình. Cô tự tìm đến Josef, một người bạn trai từng tán tỉnh cô ngày xưa. Anh ta cũng là người di cư bất đắc dĩ như cô và tình cờ đi chung chuyến bay về Praha với cô. Cô để cho toàn bộ thân thể và bản năng mình đón nhận cảm giác hoàn toàn trở về. Nhưng rất nhanh cô nhận ra mình đã bị bỏ rơi giữa đường, theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Josef bỏ cô nằm trần truồng trên giường để thoát đi cho kịp chuyến bay rời Praha.
Nhưng Irena không chỉ là nạn nhân. Khi đã có một Praha xa xôi, chập chờn, bí mật cho riêng mình, chính cô cũng phớt lờ một Praha cụ thể, sinh động, rộn ràng của Gustaf chồng cô.
Josef thì sao? Anh ta không đến mức tệ hại như chúng ta tưởng tượng. Anh cũng là kẻ thất bại trên đường trở về. Nhưng anh sớm biết thân biết phận: anh biết mình là kẻ có tội, một kẻ đào ngũ; họ đã lấy nhà cửa của anh và nhất là bức tranh quý giá của một họa sĩ tặng cho anh… “Anh không cảm thấy chút hứng thú nào với việc ngoái nhìn lại sau lưng và cố làm việc ấy càng ít càng tốt.” Sự gắn kết với hiện tại giúp anh xua đuổi dễ dàng các kỷ niệm. Anh sáng suốt khi tự nhủ “mình chỉ có một cuộc đời và mình muốn sống ở nơi khác” và anh muốn hoàn thành lịch sử của cá nhân mình với tất cả sự ngậm ngùi lẫn dửng dưng khi cố gắng thoát ra khỏi những cái bẫy quá khứ giăng đầy. Cuộc sống riêng tư của anh có thể sẽ rất tẻ nhạt, nhưng biết sao được, vì đó là chọn lựa của anh, chọn lựa quên lãng tất cả và sẵn sàng chấp nhận bị lãng quên.
Như thường thấy trong các tiểu thuyết của Milan Kundera - khảo sát một hiện hữu thể nghiệm, Vô tri khảo sát cái tôi trong tương quan với các chìa khóa hay mật mã cuộc sống: trí nhớ, những kỷ niệm, sự hồi hương, chiều kích lịch sử - chính trị của con người, xung đột giữa đại tự sự và tiểu tự sự…
Sau hai mươi năm sống ở nước ngoài, Irena về thăm tổ quốc Bohême và thành phố Praha của tuổi thơ cô. Thực ra, cô không háo hức với chuyến đi này lắm, vì lúc này ở Pháp cô đã sống yên ổn với công việc, căn hộ và các con. Cô về đơn giản là do sự thúc giục của chồng cô, Gustaf, một người đang thấy có nhiều cơ hội làm ăn ở Praha khi bộ máy kinh tế thị trường ở đó đang mở hết công suất. Nhưng điều làm cô đau đớn ngay trước lúc lên đường là một người bạn cô ở Paris đã xem chuyến trở về Praha này như là chuyến trở về mang ý nghĩa nhân sinh lớn lao vì không như vậy cô sẽ thiếu hẳn một chiều kích quyết định để đánh giá con người: chiều kích lịch sử. Sylvie đã phớt lờ hai mươi năm sống ở Paris của Irena - hai mươi năm ấy cô đã xây dựng cho mình một khoảng trời riêng đủ ấm áp, đủ hạnh phúc, và đủ những đường nét nhân văn chính yếu. Khi Irena nói: “Tớ sống ở đây được hai mươi năm rồi. Cuộc đời tớ là ở đây!” thì Sylvie im lặng khó chịu, ngầm muốn nói rằng (Irena) không được phép lảng tránh những sự kiện vĩ đại đang diễn ra “tại nước cậu”. Với Sylvie, đó là Cuộc Trở Về Vĩ Đại, có thể sánh với cuộc trở về của Ulysse trong sử thi Hy Lạp Odyssée.
Nhưng đó dù sao cũng là cách cư xử có phần “văn minh” và “thấu hiểu” của Sylvie, thay mặt giới trí thức Pháp, dành cho Irena, một người nhập cư đến từ một nước Đông Âu cách mạng. Thái độ phớt lờ trước cuộc sống riêng tư của Irena chưa đến mức phũ phàng. Những người bạn cũ của Irena ở Praha sẽ làm điều này. Với tư cách số đông (trong một bữa tiệc), họ không cần thay mặt ai cả, họ chính là tất cả những người “không di cư”, đã ở lại tổ quốc suốt hai mươi năm khó nhọc không có Irena. Họ không hỏi thăm lấy một lời về hai mươi năm di cư của cô. Cô muốn chọn chủ đề cho cuộc gặp gỡ và muốn được họ lắng nghe, nhưng “Đám phụ nữ nói không ngừng và gần như không thể áp đặt cho cuộc trò chuyện ấy một chủ đề (…) / ngay khi những lời của cô tách xa khỏi những mối bận tâm của họ, không ai buồn lắng nghe cô nữa cả.” Họ không uống những chai rượu Bordeau mà Irena mang về từ Paris. (Khi đã say sưa với bia, thức uống quen thuộc của quê nhà, họ mới quấy quá uống chút rượu vang).
Rõ ràng, cô bạn Sylvie và những người bạn Praha đã cố tình lôi kéo Irena vào một đại tự sự (grand narrative), không cho cô đứng ngoài một bầu trời chung. Không ai cần biết Irena rốt cuộc cũng cảm thấy mình yêu Praha biết bao, và thực sự muốn lấp đầy ý nghĩa cho chuyến trở về này bằng cách tranh thủ tìm lại một Praha với bao kỷ niệm êm đềm xa xưa, “Praha của những khu vườn bao quanh, vào lúc hoàng hôn, bí mật tiến hành lan tỏa mùi hương”. Không ai cần biết điều gì đang diễn ra trong sâu xa tâm hồn cô, kể cả người chồng đi cùng cô. Như vậy là cô đã “ngoại tình trong tư tưởng”. Không, cô sẽ đi xa hơn, cô sẽ ngoại tình trong thực tế để đẩy nhanh tiến trình đi tìm thời gian đã mất của mình. Cô tự tìm đến Josef, một người bạn trai từng tán tỉnh cô ngày xưa. Anh ta cũng là người di cư bất đắc dĩ như cô và tình cờ đi chung chuyến bay về Praha với cô. Cô để cho toàn bộ thân thể và bản năng mình đón nhận cảm giác hoàn toàn trở về. Nhưng rất nhanh cô nhận ra mình đã bị bỏ rơi giữa đường, theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Josef bỏ cô nằm trần truồng trên giường để thoát đi cho kịp chuyến bay rời Praha.
Nhưng Irena không chỉ là nạn nhân. Khi đã có một Praha xa xôi, chập chờn, bí mật cho riêng mình, chính cô cũng phớt lờ một Praha cụ thể, sinh động, rộn ràng của Gustaf chồng cô.
Josef thì sao? Anh ta không đến mức tệ hại như chúng ta tưởng tượng. Anh cũng là kẻ thất bại trên đường trở về. Nhưng anh sớm biết thân biết phận: anh biết mình là kẻ có tội, một kẻ đào ngũ; họ đã lấy nhà cửa của anh và nhất là bức tranh quý giá của một họa sĩ tặng cho anh… “Anh không cảm thấy chút hứng thú nào với việc ngoái nhìn lại sau lưng và cố làm việc ấy càng ít càng tốt.” Sự gắn kết với hiện tại giúp anh xua đuổi dễ dàng các kỷ niệm. Anh sáng suốt khi tự nhủ “mình chỉ có một cuộc đời và mình muốn sống ở nơi khác” và anh muốn hoàn thành lịch sử của cá nhân mình với tất cả sự ngậm ngùi lẫn dửng dưng khi cố gắng thoát ra khỏi những cái bẫy quá khứ giăng đầy. Cuộc sống riêng tư của anh có thể sẽ rất tẻ nhạt, nhưng biết sao được, vì đó là chọn lựa của anh, chọn lựa quên lãng tất cả và sẵn sàng chấp nhận bị lãng quên.
Như thường thấy trong các tiểu thuyết của Milan Kundera - khảo sát một hiện hữu thể nghiệm, Vô tri khảo sát cái tôi trong tương quan với các chìa khóa hay mật mã cuộc sống: trí nhớ, những kỷ niệm, sự hồi hương, chiều kích lịch sử - chính trị của con người, xung đột giữa đại tự sự và tiểu tự sự…
Hiệu ứng Facebook - Mark Zuckerberg
Hơn 6 năm qua, mạng xã hội Facebook đã thu hút hơn 500 triệu người sử dụng, kéo về phía mình toàn bộ phần thời gian rảnh rỗi ít ỏi còn lại của nhân loại và tạo ra những dạng « tổ chức » mới giữa những người xa lạ.
Facebook là một trong những công ty có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội, không chỉ đối vói giới trẻ mà còn với hàng triệu người trưởng thành trên toàn thế giới. Facebook nhanh chóng « phát tán » đến tất cả mọi ngõ ngách trên toàn cầu và tạo ra những hiệu ứng đáng kinh ngạc. Nó thay đổi cách mọi người liên lạc và tương tác với nhau, cách các công ty quảng bá và chào bán sản phẩm, cách chính quyền vươn tới người dân, và cách các công ty hoạt động. Thậm chí còn trở thành một công cụ chính trị hữu hiệu ở nhiều khu vực, điển hình như Columbia và Iran.
Không chỉ có vậy, người sáng lập nên Facebook - Mark Zuckerberg – nhanh chóng trở thành một trong những tên tuổi nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng nhất trên thế giới.
Vậy làm thế nào một sinh viên Harvard 19 tuổi có thể tạo ra một công ty có khả năng thay đổi cách thức giao tiếp trên Internet của con người. Làm thế nào Facebook có thể mở rộng và đạt đến quy mô như ngày nay. Những tác động nào của Facebook đối với đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị của toàn nhân loại mà chúng ta chưa biết đến.
Trong cuốn sách bestseller của mình, nhà báo kỳ cựu về lĩnh vực công nghệ thông tin của tạp chí Fortune – David Kirkpatrick - đã mang đến cho độc giả một câu chuyện sống động, chân thực và hấp dẫn về cội nguồn cho sự ra đời và quá trình hình thành của Facebook, những khó khăn ban đầu cũng như những thành công đáng ngưỡng mộ của nó. Cuốn sách cũng sẽ mang đến cho độc giả những câu chuyện thú vị về hiệu ứng tích cực mà Facebook đang tạo ra cho toàn nhân loại. Những thông tin mà không nơi nào khác có được.
Dưới ngòi bút của David, độc giả cũng sẽ nhận thấy rằng yếu tố đưa đến sự phát triển, sự thu hút của Facebook không phải ở chỗ đơn thuần chỉ là sự yếu tố thương mại trực diện mà chính là sự chia sẻ, truyền nhiệt từ tất cả những con người có chung mối quan tâm, niềm đam mê để từ đó tạo ra những hiệu ứng tích cực cho cộng đồng, tổ chức và doanh nghiệp. Đó mới chính là giá trị sâu sắc vượt trên cả mục tiêu đơn thuần là lợi nhuận của một công ty. Và đó cũng là bài học cho bất kỳ doanh nghiệp nào đang trên con đuờng tìm kiếm thành công.
Facebook là một trong những công ty có tốc độ phát triển nhanh nhất trong lịch sử, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội, không chỉ đối vói giới trẻ mà còn với hàng triệu người trưởng thành trên toàn thế giới. Facebook nhanh chóng « phát tán » đến tất cả mọi ngõ ngách trên toàn cầu và tạo ra những hiệu ứng đáng kinh ngạc. Nó thay đổi cách mọi người liên lạc và tương tác với nhau, cách các công ty quảng bá và chào bán sản phẩm, cách chính quyền vươn tới người dân, và cách các công ty hoạt động. Thậm chí còn trở thành một công cụ chính trị hữu hiệu ở nhiều khu vực, điển hình như Columbia và Iran.
Không chỉ có vậy, người sáng lập nên Facebook - Mark Zuckerberg – nhanh chóng trở thành một trong những tên tuổi nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng nhất trên thế giới.
Vậy làm thế nào một sinh viên Harvard 19 tuổi có thể tạo ra một công ty có khả năng thay đổi cách thức giao tiếp trên Internet của con người. Làm thế nào Facebook có thể mở rộng và đạt đến quy mô như ngày nay. Những tác động nào của Facebook đối với đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị của toàn nhân loại mà chúng ta chưa biết đến.
Trong cuốn sách bestseller của mình, nhà báo kỳ cựu về lĩnh vực công nghệ thông tin của tạp chí Fortune – David Kirkpatrick - đã mang đến cho độc giả một câu chuyện sống động, chân thực và hấp dẫn về cội nguồn cho sự ra đời và quá trình hình thành của Facebook, những khó khăn ban đầu cũng như những thành công đáng ngưỡng mộ của nó. Cuốn sách cũng sẽ mang đến cho độc giả những câu chuyện thú vị về hiệu ứng tích cực mà Facebook đang tạo ra cho toàn nhân loại. Những thông tin mà không nơi nào khác có được.
Dưới ngòi bút của David, độc giả cũng sẽ nhận thấy rằng yếu tố đưa đến sự phát triển, sự thu hút của Facebook không phải ở chỗ đơn thuần chỉ là sự yếu tố thương mại trực diện mà chính là sự chia sẻ, truyền nhiệt từ tất cả những con người có chung mối quan tâm, niềm đam mê để từ đó tạo ra những hiệu ứng tích cực cho cộng đồng, tổ chức và doanh nghiệp. Đó mới chính là giá trị sâu sắc vượt trên cả mục tiêu đơn thuần là lợi nhuận của một công ty. Và đó cũng là bài học cho bất kỳ doanh nghiệp nào đang trên con đuờng tìm kiếm thành công.
Người giỏi không phải người làm tất cả! Donna M.Gennet
Sau 1 tuần làm việc mệt mỏi thì cũng có 1 tối thứ hai (^^) thư thả, thế là lấy một số cuốn sách vừa mua ra nằm đọc. Cuốn đầu tiên mình đọc đã thấy khá hay nên viết Review này cho mọi người.
Hôm nay mình sẽ giới thiệu tới các bạn cuốn sách “Người giỏi không phải là người làm tất cả” của tác giả Donna M.Gennet. Đây là 1 cuốn sách được viết khá nhẹ nhàng. Sách khổ nhỏ và chỉ có khoảng 100 trang mà chữ lại khá to (khoảng font 14px) nên mọi người dành khoảng 1 tiếng là xong cuốn sách thôi. Còn về giá thì chỉ có 24k, Hi sinh 1 bữa ăn sáng và 1 bữa ăn trưa là có sách để đọc rồi.
Mục tiêu chính mà sách muốn đề cập đến chính là quá trình ủy quyền (hay giao việc) của người quản lý. Sách chỉ ra 1 số điều căn bản cần phải lưu ý khi giao 1 công việc cho cấp dưới hoặc khi cấp dưới nhận được 1 việc được giao thì cần phải nói điều gì với cấp trên để giúp công việc được hoàn thành thuận lợi và nhanh chóng.
Cốt truyện của sách cũng giống như 1 số sách kinh doanh khác đó là lấy cốt truyện của 1 công ty. Trong trường hợp này là 1 công ty mà trong đó Jones và James là 2 anh em họ và đều làm chức vụ quản lý trong công ty. Jones thì luôn có nhiều thời gian làm điều mình thích và dành cho gia đình sau giờ làm việc còn James thì luôn căng thẳng, bực bội để giải quyết hàng đống hồ sơ,công việc mỗi ngày và quên hết thời gian dành cho mình và gia đình. Sách đã đưa những tình huống để James đến tìm hiểu cách quản lý của người anh em Jones vì cách quản lý của Jones quá tốt còn mình thì ngược lại.
Trong sách có một câu khá hay mà Jones nói với James, viết lên đây để chia sẽ với mọi người. Câu đó là:
“Chúng ta luôn sẵn sàng đón nhận những điều mới lạ và khó khăn hơn nếu trước đó ta đã đạt được một số thành công nhất định“.
Hôm nay mình sẽ giới thiệu tới các bạn cuốn sách “Người giỏi không phải là người làm tất cả” của tác giả Donna M.Gennet. Đây là 1 cuốn sách được viết khá nhẹ nhàng. Sách khổ nhỏ và chỉ có khoảng 100 trang mà chữ lại khá to (khoảng font 14px) nên mọi người dành khoảng 1 tiếng là xong cuốn sách thôi. Còn về giá thì chỉ có 24k, Hi sinh 1 bữa ăn sáng và 1 bữa ăn trưa là có sách để đọc rồi.
Mục tiêu chính mà sách muốn đề cập đến chính là quá trình ủy quyền (hay giao việc) của người quản lý. Sách chỉ ra 1 số điều căn bản cần phải lưu ý khi giao 1 công việc cho cấp dưới hoặc khi cấp dưới nhận được 1 việc được giao thì cần phải nói điều gì với cấp trên để giúp công việc được hoàn thành thuận lợi và nhanh chóng.
Cốt truyện của sách cũng giống như 1 số sách kinh doanh khác đó là lấy cốt truyện của 1 công ty. Trong trường hợp này là 1 công ty mà trong đó Jones và James là 2 anh em họ và đều làm chức vụ quản lý trong công ty. Jones thì luôn có nhiều thời gian làm điều mình thích và dành cho gia đình sau giờ làm việc còn James thì luôn căng thẳng, bực bội để giải quyết hàng đống hồ sơ,công việc mỗi ngày và quên hết thời gian dành cho mình và gia đình. Sách đã đưa những tình huống để James đến tìm hiểu cách quản lý của người anh em Jones vì cách quản lý của Jones quá tốt còn mình thì ngược lại.
Trong sách có một câu khá hay mà Jones nói với James, viết lên đây để chia sẽ với mọi người. Câu đó là:
“Chúng ta luôn sẵn sàng đón nhận những điều mới lạ và khó khăn hơn nếu trước đó ta đã đạt được một số thành công nhất định“.
Sao biển và Nhện - Ori Brafman
"Sức mạnh Không Thể Ngăn Cản Nổi Của Cơ Cấu Phân Quyền”
Vừa đọc xong cuốn này, nhân cảm hứng còn chưa vơi nên vội vàng nhào lên viết review để chia sẽ với các bạn về cuốn sách khá thú vị này.
Sao biển và Nhện là câu chuyện lấy hình ảnh từ 2 loài là Sao biển và Nhện để làm đại diện cho 2 mô hình tập trung và phân tán. Sách trình bày và phân tích các đặc điểm, giống và khác nhau giữa 2 hệ thống tập trung và phân tán cũng như ưu và nhược điểm của chúng.
Sách giới thiệu về Nhân tố xúc tác, nếu có đọc cuốn điểm bùng phát thì nhân tố xúc tác là 1 thành phần quan trọng trong 1 hệ phân tán. Nhân tố xúc tác là nhân tố truyền cảm hứng cho 1 hệ phân tán, giúp hệ thống dễ lan tỏa và mở rộng hơn.
Với các ví dụ cụ thể về việc áp dụng mô hình sao biển đã dẫn đến thành công của một số sản phẩm như Internet, eMule, eBay, Amazon, skype, Wikipedia, Google,…đồng thời chỉ ra các thất bại trong quá khứ vì đã áp dụng hệ thống tập trung.
Sách còn chỉ ra một số quy tắc giúp chống lại sức mạnh, sự bành trướng của các hệ phân tán như: thay đổi hệ tư tưởng, tập trung hóa và tự phân tán. Bên cạnh đó, sách còn chỉ ra một số quy tắc áp dụng hệ thống sao biển (phân tán) cho thời đại ngày nay.
Với lối kể chuyện cuốn hút và khá nhiều câu chuyện thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực Internet, cuốn sách chắc chắn mang lại nhiều hứng thú cho các bạn nào quan tâm đến mảng phân tán. Kể từ khi đọc cuốn “Cái đuôi dài” và “Điểm bùng phát” thì cuốn này mang lại khá nhiều cảm hứng về mô hình phân tán cũng như các ý tưởng về xây dựng các mạng phân tán, mạng xã hội.
Sách khổ nhỏ của nhà xuất bản Tri thức, giá chỉ 48k và không dày, chỉ có khoảng 260 trang nên đọc nhanh lắm.
—————-
Lời tựa từ sách:
“Nếu bạn cắt mất đầu của một con nhện, nó sẽ chết. Nhưng sao biển không có đầu, và nếu bạn cắt một trong những cái chân của nó, cái chân này sẽ nhanh chóng tái sinh thành một con sao biển mới.”
Quy luật sinh tồn của sao biển và nhện đã được Ori Brafman và Rod A. Beckstrom khái quát thành quy luật sinh tồn của một hệ thống, một tổ chức. Có những gì ẩn giấu đằng sau thành công của Wikipedia, cragslist, Skype hay eBay? Đương nhiên không phải chỉ đơn giản là “úm ba la” biến tổ chức của mình thành một con sao biển không có đầu. Một con sao biển hay một con nhện đều có những ưu thế riêng, và bí mật của thành công là phải tìm ra được “điểm mật” của hai hệ thống đó. Cuốn sách đưa ta đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác, cho ta một cách nhìn mới về thế giới, khám phá những quy luật kinh tế bằng những triết lý giản dị và sâu sắc.
“Một trong 10 cuốn sách kinh tế hay nhất năm 2006″ – Amazon.com
1. Điều gì đứng sau thành công của Wikipedia, craigslist, hay Skype?
2. Đâu là điểm chung giữa eBay với phong trào nữ quyền?
3. Và vì sao việc thắng kiện tại Tòa án Tối cao Mỹ lại là sai lầm lớn nhất mà MGM từng phạm phải?
Các câu trả lời đều có tại “Sao biển và nhện”
Vừa đọc xong cuốn này, nhân cảm hứng còn chưa vơi nên vội vàng nhào lên viết review để chia sẽ với các bạn về cuốn sách khá thú vị này.
Sao biển và Nhện là câu chuyện lấy hình ảnh từ 2 loài là Sao biển và Nhện để làm đại diện cho 2 mô hình tập trung và phân tán. Sách trình bày và phân tích các đặc điểm, giống và khác nhau giữa 2 hệ thống tập trung và phân tán cũng như ưu và nhược điểm của chúng.
Sách giới thiệu về Nhân tố xúc tác, nếu có đọc cuốn điểm bùng phát thì nhân tố xúc tác là 1 thành phần quan trọng trong 1 hệ phân tán. Nhân tố xúc tác là nhân tố truyền cảm hứng cho 1 hệ phân tán, giúp hệ thống dễ lan tỏa và mở rộng hơn.
Với các ví dụ cụ thể về việc áp dụng mô hình sao biển đã dẫn đến thành công của một số sản phẩm như Internet, eMule, eBay, Amazon, skype, Wikipedia, Google,…đồng thời chỉ ra các thất bại trong quá khứ vì đã áp dụng hệ thống tập trung.
Sách còn chỉ ra một số quy tắc giúp chống lại sức mạnh, sự bành trướng của các hệ phân tán như: thay đổi hệ tư tưởng, tập trung hóa và tự phân tán. Bên cạnh đó, sách còn chỉ ra một số quy tắc áp dụng hệ thống sao biển (phân tán) cho thời đại ngày nay.
Với lối kể chuyện cuốn hút và khá nhiều câu chuyện thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực Internet, cuốn sách chắc chắn mang lại nhiều hứng thú cho các bạn nào quan tâm đến mảng phân tán. Kể từ khi đọc cuốn “Cái đuôi dài” và “Điểm bùng phát” thì cuốn này mang lại khá nhiều cảm hứng về mô hình phân tán cũng như các ý tưởng về xây dựng các mạng phân tán, mạng xã hội.
Sách khổ nhỏ của nhà xuất bản Tri thức, giá chỉ 48k và không dày, chỉ có khoảng 260 trang nên đọc nhanh lắm.
—————-
Lời tựa từ sách:
“Nếu bạn cắt mất đầu của một con nhện, nó sẽ chết. Nhưng sao biển không có đầu, và nếu bạn cắt một trong những cái chân của nó, cái chân này sẽ nhanh chóng tái sinh thành một con sao biển mới.”
Quy luật sinh tồn của sao biển và nhện đã được Ori Brafman và Rod A. Beckstrom khái quát thành quy luật sinh tồn của một hệ thống, một tổ chức. Có những gì ẩn giấu đằng sau thành công của Wikipedia, cragslist, Skype hay eBay? Đương nhiên không phải chỉ đơn giản là “úm ba la” biến tổ chức của mình thành một con sao biển không có đầu. Một con sao biển hay một con nhện đều có những ưu thế riêng, và bí mật của thành công là phải tìm ra được “điểm mật” của hai hệ thống đó. Cuốn sách đưa ta đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác, cho ta một cách nhìn mới về thế giới, khám phá những quy luật kinh tế bằng những triết lý giản dị và sâu sắc.
“Một trong 10 cuốn sách kinh tế hay nhất năm 2006″ – Amazon.com
1. Điều gì đứng sau thành công của Wikipedia, craigslist, hay Skype?
2. Đâu là điểm chung giữa eBay với phong trào nữ quyền?
3. Và vì sao việc thắng kiện tại Tòa án Tối cao Mỹ lại là sai lầm lớn nhất mà MGM từng phạm phải?
Các câu trả lời đều có tại “Sao biển và nhện”
Subscribe to:
Comments (Atom)